TỔNG QUAN VỀ XÃ TRIỆU ĐÔNG

Thứ sáu - 10/08/2018 18:15
Triệu Đông là vùng đất địa linh nhân kiệt, có lịch sử lâu đời và truyền thống văn hoá đặc sắc. Nhân dân Triệu Đông có lòng yêu nước nồng nàn, cần cù lao động. Tổ chức Đảng trên địa bàn xứng đáng là hạt nhân lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của quê hương.
  
MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI TRIỆU ĐÔNG

I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
         Xã Triệu Đông thuộc vùng đồng bằng, nằm về phía Đông của huyện Triệu Phong. Từ trung tâm xã (theo đường bộ) cách huyện lỵ Triệu Phong 5km và cách thị xã Quảng Trị 3km. Phía Đông giáp xã Triệu Tài, phía Tây giáp xã Triệu Long, phía Nam giáp xã Triệu Thành và phía Bắc giáp xã Triệu Hòa.
          Xã Triệu Đông thuộc tỉnh Quảng Trị nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độ cao, chế độ ánh sáng và mưa, ẩm dồi dào… là những thuận lợi cơ bản cho phát triển sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, Triệu Đông/Quảng Trị nằm trong vùng chuyển tiếp giữa hai miền khí hậu: miền khí hậu phía Bắc có mùa đông lạnh và miền khí hậu phía Nam nóng ẩm quanh năm, có sự biến động mạnh và thời tiết diễn biến bất thường nên rất khắc nghiệt. Mùa hè có gió phơn Tây Nam khô nóng (thường gọi là gió Lào) kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8 và trung bình mỗi năm có 90-100 ngày khô nóng, gây hạn hán, làm cho các nguồn nước cạn kiệt. Nhiệt độ bình quân tháng cao nhất (từ tháng 5-7) khoảng 350C, có lúc trên 400C. Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, lượng mưa tập trung từ tháng 9 đến tháng 11. Vào mùa này, gió Đông Bắc tràn về gây mưa, lạnh, nhiệt độ tháng thấp nhất ( tháng 1-2) khoảng 180C, có lúc xuống 12-130C và trong mùa này thường có bão to, lụt lớn, trong đó tháng 9 và tháng 10 có nhiều bão nhất. Một số cơn bão có cường suất gió mạnh kèm theo mưa lớn tạo ra lũ lụt ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ sở vật chất, sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư.
          Trên địa bàn xã có một nhánh của sông đào Vĩnh Định đi qua với chiều dài khoảng 2km, là đường giao thông quan trọng phục vụ việc đi lại và phát triển thương nghiệp trong những thế kỷ trước.
 Xã có tuyến kênh N1 thủy nông Nam Thạch Hãn đi qua địa phận thôn Nại Cửu dài  0,5 km, kênh cấp 2 có chiều dài 6,6 km, kênh cấp 3 và nội đồng 17,5 km, hệ thống mương tiêu nước tập trung đổ ra sông Vĩnh Định dài trên 10 km. Hệ thống sông và ao, hồ, kênh mương vai trò rất lớn trong việc cung cấp nguồn nước tưới cho đồng ruộng, tiêu úng khi ngập lụt và có tác dụng điều hòa môi trường sinh thái, cung cấp thủy sản cho cuộc sống sản xuất và sinh hoạt của người dân.
Diện tích đất tự nhiên của xã là 587,84ha, trong đó có hơn 400 ha đất nông nghiệp (đất trồng lúa có 295ha). Triệu Đông nằm trong vùng đồng bằng của huyện Triệu Phong - một trong hai vựa lúa của tỉnh. Đất phù sa khá màu mỡ nên Triệu Đông rất có tiềm năng để phát triển nông nghiệp.
Hệ thống giao thông trên địa bàn xã ngày càng phát triển. Xã có đường tỉnh lộ 580 (trước gọi là đường 64) đi qua với chiều dài 0,5km; đường huyện lộ từ Triệu Long nối qua Triệu Tài (đường 68) đi qua trung tâm 3 thôn với chiều dài 3,6km. Hai tuyến đường liên xã dọc hai bên bờ sông Vĩnh Định và trục đường xã, thôn, ngõ xóm hơn 36,6km; hệ thống đường nội đồng 24,1km. Các trục đường tỉnh lộ, huyện lộ đi qua đã nâng cấp cùng với hệ thống giao thông trên địa bàn được bê tông hóa, tạo điều kiện rất thuận lợi cho người dân đi lại, phục vụ đắc lực cho phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa giữa Triệu Đông với các vùng xung quanh, đồng thời tạo điều kiện để quảng bá, giới thiệu nét văn hóa đặc sắc của xã với du khách xa gần.
II. ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH QUA CÁC THỜI KỲ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LÀNG, XÃ
1. Địa lý hành chính
          Năm 1306, để cầu hôn công chúa Huyền Trân nước Đại Việt, vua nước Chămpa là Chế Mân đã lấy hai châu Ô, Lý làm vật sính lễ. Tháng giêng năm sau (1307), nhà Trần đổi châu Ô thành châu Thuận1, châu Lý thành châu Hóa. Dân chúng vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh h­ưởng ứng đợt vận động di dân vào lập làng ở vùng đất mới. 
Đơn vị hành chính mới là huyện Ba Lãng được thành lập, vùng đất Triệu Đông ngày nay thuộc huyện này của châu Thuận
2. Người Việt di cư vào vùng đất phía Nam sông Hiếu thời kỳ này còn ít nên các làng Việt rất thưa thớt và người Việt cũng sống cộng cư với các làng người Chăm. Đến thời nhà Hồ và nhất là thời vua Lê Thánh Tông, với chính sách khuyến khích người dân đi khai hoang, thì người Việt mới di chuyển ngày càng đông vào vùng đất Thuận Hóa. Từ năm Quang Thuận thứ 10 (1469), sau khi vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ của các phủ, châu, huyện, xã, trang sách thuộc 12 thừa tuyên trong cả nước, châu Thuận được cải đặt thành hai huyện: Hải Lăng (gồm 7 tổng, 75 xã) và Vũ Xương (8 tổng, 53 xã) cùng với hai châu: Sa Bôi và Thuận Bình ở miền tây, thuộc phủ Triệu Phong nằm trong thừa tuyên Thuận Hóa3. Triệu Đông hiện nay vào thời Lê - Mạc thuộc huyện Vũ Xương (Võ Xương), phủ Triệu Phong, thừa tuyên Thuận Hóa.
             Danh mục 49 làng/xã của huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong được chép  trong “Ô châu cận lục” (năm Ất Mão - 1555) có tên hai làng là Hoa La và Nại Cửu. Hai làng này là gốc đầu tiên để hình thành nên xã Triệu Đông sau này.
Thời các chúa Nguyễn, mảnh đất Triệu Đông thuộc tổng Hoa La của huyện  Hải Lăng, phủ Triệu Phong gồm hai xã: Hoa La và Nại Diên (Nại Cửu đổi tên thành Nại Diên)
4.
           Năm 1802, Nguyễn Ánh sau khi lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu là Gia Long đã cho sắp xếp lại các địa danh hành chính trong cả n­ước. Gia Long cho lấy hai huyện Hải Lăng, Ðăng Xư­ơng thuộc phủ Triệu Phong và huyện Minh Linh thuộc phủ Quảng Bình, đặt thành dinh Quảng Trị
5. Huyện Đăng Xương có 5 tổng, trong đó, tổng Bích La (24 xã, thôn, phường, giáp). Xã Nại Diên đổi tên thành Nại Cửu như trước. Xã Hoa La đổi tên thành Bích La và chia thành tứ giáp: Bích La Trung, Bích La Đông, Bích La Nam, Bích La Hậu. Đến năm 1915, đời vua Duy Tân thứ 9, xứ Hà Dương được tách ra thành Giáp thượng, Bích La ngũ giáp ra đời từ đó.
            D­ưới thời Pháp thuộc, sau năm 1885, tuy có nhiều thay đổi về đơn vị hành chính của tỉnh cũng như các phủ huyện, nhưng về cơ bản, các làng/xã thuộc địa bàn của xã Triệu Đông hiện nay đều thuộc tổng Bích La huyện Thuận Xương/Đăng Xương. Từ năm Duy Tân thứ 2 (1908), huyện Thuận Xương đổi thành phủ Triệu Phong (tức huyện Triệu Phong sau này), quản lãnh 5 tổng 93 làng. Theo thống kê năm 1914, phủ Triệu Phong có 5 tổng, trong đó tổng Bích La có 26 xã, thôn, giáp. Xã Nại Cửu và Bích La ngũ giáp thuộc tổng này.
            Sau Cách mạng tháng Tám thắng lợi, chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập. Các đơn vị hành chính cấp phủ được đổi thành cấp huyện và tên gọi không thay đổi. Cấp tổng bị bãi bỏ. Làng lớn lập thành một xã, làng nhỏ thì hai, ba làng hợp thành một xã.
          Sau bầu cử Quốc hội (6-1-1946) và Hội đồng nhân dân tỉnh, xã (2-1946), hệ thống chính quyền các cấp được hình thành một cách có tổ chức chặt chẽ hơn. Cuộc hiệp xã lần thứ hai diễn ra vào tháng 10-1946. Xã Phong La (một trong 14 xã
6 của huyện Triệu Phong) được thành lập gồm các thôn: Nại Cửu, An Tiêm, Cổ Thành, Hậu Kiên, Trọng Đức, Tân Xuân, Bích La Đông, Bích La Trung, Bích La Nam, Bích La Hậu, An Hưng, Phú Liêu, An Trú, Tài Lương, Đạo Đầu…
Đến năm 1950, để phù hợp với tình hình mới, tăng thêm sức mạnh chiến đấu liên hoàn và thực hiện chủ trương của Trung ương về “tăng cường tỉnh, đơn giản huyện, kiện toàn xã”, cuộc hiệp xã lần thứ ba được tiến hành, các xã được mở rộng thành những xã lớn hơn. 14 xã của huyện Triệu Phong hợp thành 7 xã, trong đó xã Phong La và Phong Quang (trừ các thôn An Lộng, Đại Hào, Vân Long) hợp thành xã Triệu Quang
7.
           Sau một thời gian ngắn, do địa bàn xã quá rộng, không đủ điều kiện quản lý, tổ chức cuộc kháng chiến, tỉnh chủ trương điều chỉnh lại quy mô xã; huyện Triệu Phong từ 7 xã lên thành 10 xã
8, trong đó, xã Triệu Vinh gồm 15 thôn: An Kiệt, An Trú, Thâm Triều, Bích La Đông, Bích La Nam, Bích La Trung, Bích La Hậu, Hà My, Nại Cửu, Hậu Kiên, Tả Hữu, An Hưng, An Tiêm, Cổ Thành và Tài Lương.
            Sau ngày 20-7-1954, theo Hiệp định Giơnevơ, sông Bến Hải - vĩ tuyến 17 trở thành biên giới quân sự tạm thời, chia cắt n­ước Việt Nam thành hai miền Nam - Bắc. Phần lớn diện tích và dân cư Quảng Trị ở phía nam sông Bến Hải thuộc chính quyền Sài Gòn. Đơn vị hành chính cấp huyện gọi là quận, các làng được gọi là thôn.
Năm 1955, các đơn vị hành chính tỉnh Quảng Trị phía Nam sông Bến Hải gồm có 6 quận, 65 xã và 395 thôn. Quận Triệu Phong có 19 xã, 132 thôn. Các xã có chữ đứng đầu tên giống nhau nhưng không đứng đầu tên quận mà lại dùng chữ An. Lúc đầu, chính quyền Ngô Đình Diệm lập ra liên xã Bích La sau đổi thành xã An Đông. Đến năm 1958, toàn tỉnh Quảng Trị có 7 quận
9. Chữ cái đầu của tên quận lấy đặt làm chữ đầu cho tên xã thuộc quận đó. Quận Triệu Phong có 18 xã trong đó có xã Triệu Thành10. Các thôn thuộc địa bàn Triệu Đông thuộc xã Triệu Thành.
           Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari về Việt Nam được ký kết, Quảng Trị hình thành hai vùng: vùng giải phóng chiếm 85% diện tích đất; phần còn lại là vùng tạm bị chiếm. Phần lớn địa bàn xã Triệu Đông thuộc vùng giải phóng
11.
            Sau khi đất nước thống nhất (4-1975), để phù hợp hơn với thực tế lịch sử và nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, tháng 4-1976, xã Triệu Thành tách thành hai xã: Triệu Thành và Triệu Đông. Xã Triệu Đông có 4 thôn: Bích La Đông, Bích La Trung, Bích La Nam và Nại Cửu. Tên xã Triệu Đông xuất hiện từ thời điểm này và là một đơn vị hành chính của huyện Triệu Phong. Cũng từ tháng 4-1976, tỉnh Bình Trị Thiên ra đời trên cơ sở sáp nhập 4 đơn vị: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và đặc khu Vĩnh Linh. Theo đó, một số huyện, thị xã, xã cũng được sáp nhập lại với quy mô lớn hơn. Ngày 11-3-1977, huyện Triệu Phong, Hải Lăng được hợp nhất thành huyện Triệu Hải
12. Xã Triệu Đông là một đơn vị hành chính của huyện Triệu Hải.  
            Ngày 30-6-1989, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá VIII ra nghị quyết phân chia lại địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó tỉnh Bình Trị Thiên đ­ược tách thành 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên. Ngày 1-7-1989, tỉnh Quảng Trị được lập lại. Ngày 23-3-1990, huyện Triệu Hải tách thành hai huyện Hải Lăng và Triệu Phong
13, xã Triệu Đông nằm trong huyện Triệu Phong thuộc tỉnh Quảng Trị.
             Trải qua nhiều cuộc biến động lịch sử và địa giới hành chính, đến nay, xã Triệu Đông là một đơn vị hành chính cơ sở thuộc huyện Triệu Phong, không thay đổi các đơn vị thôn như ngày đầu thành lập.
             
2. Quá trình hình thành các làng trên vùng đất Triệu Đông
            
Những chính sách của các triều vua Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVII –XVIII để gìn giữ biên giới vừa mở rộng cương vực đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc di dân từ Bắc vào vùng đất Quảng Trị cũng như các vùng đất phía Nam lập nghiệp. Từ đó, những làng, xã mới được hình thành ngày càng đông đúc trên vùng đất Quảng Trị thuộc xứ Thuận Quảng lúc bấy giờ.
            Hoa An (Hoa La/Bích La) và Nại Cửu là hai trong những làng ra đời sớm ở phía Nam Quảng Trị.
            Làng Bích La: là một trong những làng nổi tiếng của Quảng Trị, có bề dày văn hóa và lịch sử, là vùng đất địa linh nhân kiệt vì đã sản sinh ra nhiều nhân tài cho quê hương và đất nước.
           Người lập nên làng Bích La là ông Lê Mậu Doãn, giữ chức quan Chánh Chưởng Trủng tể dưới thời vua Lê Chiêu Tôn, niên hiệu Thống Nguyên (1522-1527), là hậu duệ dòng học Lê Mậu phát sinh từ đầu đời nhà Lê (hậu Lê) ở xã Hoa Duệ, tổng Mỹ Duệ (sau này thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh); là người tinh thông binh pháp, tính tình trung hậu. Năm Lê Chiêu Tôn lên ngôi (1522) cũng là năm Mạc Đăng Dung đã thâu tóm quyền lực, vì không muốn cộng tác với Mạc Đăng Dung, ông đã lĩnh mệnh vua vào cai quản xứ Tân Bình – Thuận Hóa, vùng đất biên cương phía Nam giáp với Chiêm Thành chưa được khai phá. Cùng đi có 14 hộ bộ tướng và bầu đoàn thê tử, dọc đường, ông còn chiêu thêm lưu dân vào nam lập nghiệp.
           Đến năm 1527, ông chọn vùng đất xứ Hà Dương phía nam sông Thạch Hãn làm nơi định cư, khai khẩn đất hoang lập làng đầu tiên lấy tên là Hoa An. Như vậy, làng Hoa An ra đời trước khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa 31 năm. Sau khi chúa Nguyễn vào mở mang vùng đất phía Nam, ông cùng các bộ tướng đã một lòng trung thành, giúp chúa dựng nghiệp. Vì vậy, ông được xét công trạng phong tước Doãn Lộc Hầu, “Chí đức đại thần”.
           Để tôn vinh người có công khai khẩn và ghi dấu sự hình thành làng cổ Bích La, dân làng đã xây dựng khu miếu có tường thành bao bọc. Ở trong miếu, bài vị ghi dòng chữ: “Bổn thổ khai khẩn cai tri Phó tướng Doãn Lộc hầu linh tế Dục Bảo Trung Hưng Linh Phò tôn thần”. Ngôi miếu nằm trong quần thể đình làng Bích La, trên đất làng Bích La Đông. Điều đặc biệt là một số Thần phả, Sắc phong từ đầu triều Nguyễn vẫn được lưu giữ cẩn thận, trong đó ghi rõ công lao của ông và những người cùng đi.
Trải qua thời gian, dân cư ngày càng đông đúc, đất đai mở mang thêm, 4 giáp trong Bích La được biệt lập thành làng, có bộ máy chính quyền và địa bộ riêng.
             Làng Bích La Đông: có 15 họ tộc, trong đó 8 dòng họ Lê (Lê Văn, Lê Bá, Lê Cảnh, Lê Mậu, Lê Phước, Lê Đức, Lê Trọng, Lê Thế) và các dòng họ Nguyễn, Trần, Phan, Phạm, Hồ, Đặng, Dương. Các thế hệ nối tiếp của làng đều rất tự hào và phát huy truyền thống yêu nước, học hành khoa cử, góp phần xây dựng nên truyền thống tốt đẹp của xã.
          Làng Bích La Trung: có 03 họ chính: Nguyễn, Trần, Dương. Theo địa bộ thì từ khi lập làng, ruộng đất đều là của công, nhưng đến triều Khải Định do cường hào lý hương lo lót quan trên nên đã trích một phần bán cho nhà giàu, biến ruộng công thành tư điền, tư thổ. Phần ruộng đất còn lại chủ yếu là đất bạc màu đem chia cho dân nghèo, lại thêm cảnh sưu cao thuế nặng nên đời sống nhân dân lâm vào cảnh cơ hàn đói rách quanh năm. Cảm thương cuộc sống khổ cực của người dân, vào năm Tân Dậu, ông Trần Câu là người giàu có trong làng đã bỏ tiền của ra đóng thuế cho dân ba năm liền, ông còn xây cho làng một ngôi chùa năm gian để thờ Phật và các vị thánh hiền. Ghi nhớ công đức của ông, sau khi ông mất, dân làng đã trích ba sào ruộng để hương khói và ghi khắc văn bia trong chùa là “Liên hoa tự Tân Dậu, niên mệnh Tiên tu công đức đắc tấn thành lộc đại phu đại lý tự câu kê lục công thành kiêm lược bá”.
          Làng Bích La Nam: Là một trong ngũ giáp hình thành từ làng Bích La xưa, Bích La Nam buổi đầu có 5 họ, trải qua thời gian, do dịch bệnh hoành hành chỉ còn hai họ là họ Trần và họ Nguyễn cùng dân các nơi khác đến chung sống lập nghiệp. Tuy cuộc sống vật chất rất vất vả nhưng đời sống tinh thần của dân làng vẫn phong phú, luôn hướng về cội nguồn, tiên tổ và sự bình yên, hạnh phúc vĩnh hằng bằng việc xây dựng nhiều công trình văn hoá như đình làng, miếu Thành hoàng bổn thổ, đền thờ Ông, miếu bà Hoả, đền Âm hồn, miếu Ngũ hành, miếu thời ngài Cao Các Đại Vương....; duy trì các nghi lễ như giỗ Ngài khai khẩn, lễ Cầu an, lễ tảo mộ thường niên; góp phần xây dựng văn hoá làng, xã.
Gần 500 năm tồn tại, trải qua bao biến thiên lịch sử, dân làng Bích La đoàn kết, chung lưng đấu cật, chống chọi với thiên nhiên, khai khẩn đồng ruộng, xây dựng làng xóm ngày một trù phú và tạo dựng một đời sống tinh thần, văn hóa phong phú, đặc sắc.
           Làng Nại Cửu: Khoảng gần 500 năm về trước, trong các cuộc di dân từ miền Bắc vào vùng Thuận Quảng, đã có một nhóm người thấy nơi đây phong cảnh hữu tình, đất đai, đồng ruộng bằng phẳng đã dừng chân lập nghiệp. Sau quá trình khai khẩn đất đai, dựng nhà cửa, trồng trọt, chăn nuôi để sinh tồn, một làng mới với tên Nại Cửu ra đời. Các vị tiền nhân khi đặt tên Nại Cửu - với ý nghĩa bền lâu, đã phản ánh ý chí, cốt cách hoài bão, khát vọng vươn tới cái đẹp, sự trường tồn vĩnh hằng cho cả cộng đồng và con cháu kế nghiệp tương lai. Tưởng nhớ công ơn của các ngài tiền khai khẩn, dân làng đã lập miếu thờ tại khu vực xóm Ngoài và hàng năm vào các dịp tế lễ đều tổ chức nghinh rước về đình làng rất long trọng
14. Làng Nại Cửu có các dòng họ chính: họ Lê, họ Nguyễn, họ Đinh, họ Hoàng, họ Võ, họ Phan, họ Trần, về sau có thêm họ Đoàn.
          Để hình thành nên những đơn vị hành chính làng, xã có thời gian tồn tại gần năm thế kỷ, con người trên vùng đất Triệu Đông đã bao lần máu trộn mồ hôi, nước mắt, quyết chí vững lòng bảo vệ và xây dựng quê hương. Từ buổi đầu lập nghiệp trên vùng đất được coi là “ô châu ác địa” cho đến những năm tháng chiến tranh hết sức ác liệt, lớp lớp người dân Triệu Đông ra sức khai phá đất đai, mở rộng diện tích, từng bước tạo lập làng, xóm, chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, chiến đấu kiên cường đánh giặc ngoại xâm; từ đó xây đắp nên truyền thống quý báu, góp phần hình thành và phát triển những phẩm chất cao đẹp của con người Quảng Trị.
 
1 Do chiến tranh, miếu thờ ở xóm Ngoài bị tàn phá nên việc thờ cúng đều các vị tiền khai khẩn được đưa vào trong đình làng.
 
2 Ủy ban KHXH Việt Nam. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1. Bản dịch của Nxb VH-TT. 2004, tr. 568-569. 
3 Châu Thuận sau đó được đổi thành trấn/phủ/lộ Thuận Hóa.
4 Lê Quý Ðôn. Phủ biên tạp lục. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội, 1977, tr. 41.
5 Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục, tr. 101.
6 Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðại Nam nhất thống chí, tập 1. Nxb Thuận Hóa, Huế, 1992. tr. 92.
7 14 xã gồm: Phong Nguyên, Phong Sơn, Phong An, Phong Hanh, Phong Gia, Phong Việt, Phong Hội, Phong Thanh, Phong Đăng, Phong Quang, Phong Lai, Phong La, Phong Xá, Phong Thái.
8 Phong Đăng và Phong Gia (trừ thôn An Lợi) thêm thôn Xuân Thành thành xã Triệu Bình. Phong Thái và Phong Việt thêm thôn An Lợi của xã Phong Gia thành xã Triệu An. Phong Xá và Phong Lai thêm các thôn Gia Đẳng, Nhật Tân và Ba Lăng của xã Phong Thanh thành xã Triệu Sơ. Phong Hội và các thôn An Long, Đại Hào thuộc xã Phong Quang, An Hội, Bảo An và Thanh Hội của xã Phong Thanh thành xã Triệu Thanh. Phong Sơn và các thôn Trà Liên, Ái Tử, Giang Hàn, Nại Hưu Thượng, Điệp Khê, Tiền Kiên, Tả Kiều của xã Phong An và Vân Long của xã Phong Quang thành  xã Triệu Sơn. Phong Hanh và các thôn Kiến Phước, Phước Mỹ, Hà Xá, Tân Phố, Phú Ông và Kiên Mỹ của xã Phong An thành Triệu Hòa. Theo quyết nghị số 1027-QN/P5 của UBKCHC Liên khu 4. Nguyễn Quang Ân: Những thay đổi địa danh và địa giới hành chính qua các thời kỳ (1945-1997), NXb Văn hóa Thông tin, Hà nội, 1997, tr.42.
9 10 xã gồm: Triệu Vinh, Triệu An, Triệu Tân, Triệu Quang, Triệu Bình, Triệu Cơ, Triệu Hòa, Triệu Thành, Triệu Sơn, Triệu Nguyên.
10 Dẫn theo: Nguyễn Đình Tư. Non nước Quảng Trị. Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2011, tr. 110.     
11 Gồm các thôn: Nại Cửu, Bích La Đông, Bích La Trung, Bích La Nam, Cổ Thành, An Tiêm, Hậu Kiên, Tân Xuân, vạn Trọng Đức I.
12 Ranh giới từ xóm ngoài thôn Nại Cửu đến Bích La Đông qua Bích La Trung về phía Đông là vùng tạm bị chiếm.
13 Quyết định số 62-CP của Hội đồng Chính phủ ngày 11-3-1977. Dẫn theo Nguyễn Quang Ân: Việt Nam - những thay đổi về địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945 - 1997. Sđd, tr. 242.
14 Quyết định số 91-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 23-3-1990. Dẫn theo Nguyễn Quang Ân: Việt Nam - những thay đổi về địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945 - 1997. Sđd, tr. 507.

Tác giả bài viết: Lê Cảnh Chiến

Nguồn tin: Lịch sử Đảng bộ xã Triệu Đông giai đoạn 1930 - 2010

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây